Vườn trên không gian mái là một giải pháp mới để đưa thiên nhiên vào nhà ở đô thị, nâng cao chất lượng sống của các gia đình. Khi xã hội phát triển nhanh chóng, kéo theo tốc độ đô thị hóa gia tăng ở các thành phố lớn, người dân phải đối mặt với bài toán thiết hụt không gian xanh và ô nhiễm không khí.
Vấn đề hiện nay – Sự cần thiết của các giải pháp không gian mái
Xã hội ngày nay phát triển nhanh chóng cùng với tốc độ đô thị hóa ở các đô thị lớn trên thế giới. Nền kinh tế phát triển, nhiều cơ hội việc làm hơn tuy nhiên lại dẫn đến hệ quả mật độ dân cư ngày càng cao và không gian càng trở nên chật chội. Nhiều đô thị lớn trên thế giới cũng như hai đô thị có mật độ dân cư cao nhất Việt Nam là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cũng phải đối mặt với bài toán thiếu hụt không gian xanh một cách nghiêm trọng.
Theo kết quả thống kê từ Cục phát triển đô thị Việt Nam, kinh tế Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn 2011-2020 cùng tốc độ đô thị hóa tăng nhanh (bắt đầu từ những năm 2000-2010). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện thuận lợi mang đến nhiều cơ hội việc làm và nguồn lực lao động dồi dào, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động và di cư đô thị từ nông thôn ra các đô thị lớn.
Không gian đô thị cũng vì vậy mà có sự thay đổi rõ rệt, hạ tầng đô thị phát triển hơn, thống kê cho thấy “các khu đô thị của Việt Nam tăng 2,8% hàng năm, nằm trong số các nước có tỷ lệ tăng nhanh nhất khu vực. Về gia tăng dân số đô thị, đạt tốc độ tăng hơn 3 %/năm. Việt Nam là một trong những nước có tốc độ đô thị hóa nhanh trong khu vực Đông Á. Mỗi năm, ước tính các đô thị Việt Nam có thêm từ 1 đến 1,3 triệu dân. Đến tháng 9/2022 tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc đã đạt khoảng 41,5%, với 888 đô thị” [5].
Số liệu nghiên cứu từ Bộ Xây dựng cũng cho thấy tính đến năm 2020, Việt Nam có 36,7 triệu dân đô thị, trong đó mật độ dân số đô thị tập trung cao ở hai thành phố lớn là thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Trong nhiều thập kỷ qua, quá trình đô thị hóa đã dẫn đến sự phát triển liên tục của cơ sở hạ tầng, mật độ dân số cũng tăng cao dẫn đến nhu cầu về thực phẩm, nước, năng lượng và các nguồn tài nguyên khác cũng gia tăng.
Bên cạnh sự suy giảm sẵn có của hệ sinh thái tự nhiên, các thành phố có mật độ dân số cao (điển hình là thành phố Hà Nội) đang phải đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp bao gồm cơ sở vật chất xuống cấp, hạ tầng phát triển không đồng bộ, ô nhiễm môi trường, tài nguyên bị khai thác quá mức, thiếu diện tích cây xanh và mặt nước, thiếu không gian sống và mất đi sự liên kết với môi trường sống tự nhiên; những vấn đề này sẽ ngày càng nghiêm trọng hơn trong tương lai khi xu hướng dân cư đô thị ngày càng tăng.
Cấu trúc của một khu vườn trên không gian mái thường bao gồm lớp thực vật, lớp đất trồng, lớp màng chống thấp và lớp thoát nước mái cho ngồi nhà. Các nghiên cứu trên thế giới cũng cho thấy việc áp dụng hệ thống này mang lại nhiều lợi ích khác nhau như: giảm lượng nước mưa chảy tràn, giảm thiểu hiệu ứng đảo nhiệt đô thị, hiệu ứng chống nóng – điều hòa không khí, tiết kiệm năng lượng cũng như cung cấp sự gia tăng đáng kể đa dạng sinh học, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giảm khí thải carbon.
Bên cạnh đó, các không gian xanh hoặc khu vườn trên mái đa chức năng còn mang lại những lợi ích về xã hội. Việc thiếu các không gian công cộng trong thành phố cũng ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần của cư dân đô thị.
Do đó, việc tăng cường mối liên hệ với không gian xanh sẽ góp phần giảm thiểu các tác động tiêu cực, giúp cho con người có không gian phục hồi và tái tạo năng lượng, tinh thần cũng như gia tăng khả năng lao động – sáng tạo. Ngoài ra, vườn trên không gian mái cũng bổ sung thêm giá trị thẩm mỹ cho cảnh quan đô thị trước sự tác động mạnh mẽ trên quy mô lớn của hiệu ứng đô thị hóa – bê tông hóa.
Tham khảo thêm giải pháp không gian mái: Thi công vườn trên mái: Giải pháp xanh hóa không gian sống hiện đại
Thực trạng sử dụng không gian mái trong các khu ở thấp tầng mật độ cao tại Thành phố Hà Nội
Phân loại khu ở thấp tầng và thực trạng sử dụng không gian mái
Báo cáo của UN-Habitat (2014) [8] và World Bank (2015) [7] đã phân tích và chỉ ra các loại hình nhà ở đô thị tại Việt Nam; dựa trên số liệu được cung cấp trong báo cáo, nghiên cứu đã tổng hợp và chỉ ra các loại hình khu ở thấp tầng cùng với đặc tính về mái phổ biến tại Việt Nam nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng.
| STT | Loại hình nhà ở/ khu ở | Đặc điểm | Loại hình mái | |
| Mái dốc | Mái bằng | |||
| 1 | Nhà ống mặt phố | Hẹp, dài, mật độ xây dựng thường là 100%. Kích thước trung bình 4x25m. Số tầng: G+5 | x | x |
| 2 | Nhà ống trong ngõ (hẻm) | Hẹp, dài, mật độ xây dựng thường là 100%. Kích thước trung bình 4x25m.
Số tầng: G+5 |
x | x |
| 3 | Biệt thự cũ | Phong cách thuộc địa cũ được xây dựng từ thời Pháp thuộc
Số tầng: G+3 |
x | Không |
| 4 | Biệt thự hiện đại | Biệt thự xây mới, có thể nằm trong quần thể dự án hoặc xây dựng trên đất tư nhân.
Số tầng: G+3 |
x | x |
| 5 | Chung cư thấp tầng | Nhà chung cư thấp tầng được xây mới
Số tâng: G+5 |
Không | x |
| 6 | Nhà ở tái định cư/ nhà ở xã hội | Khu ở được xây dựng cũ từ những năm 1960-1980 hoặc các khu nhà ở mới được xây dựng
Số tầng: G+5 |
Không | x |
| 7 | Nhà ở thấp tầng diện tích nhỏ | Chủ yếu ở các khu vực ven đô, nằm trong ngõ hoặc các làng (xóm) ngoại thành. Kích thước trung bình 3x15m
Số tầng: G+1 đến G+2 |
x | x |
Bảng 1. Phân loại khu ở thấp tầng và đặc tính mái
Số liệu từ Tổng Cục Thống Kê năm 2019 cho thấy đa số các hộ dân cư tại thành phố Hà Nội hiện đang sống trong các nhà kiên cố và bán kiên cố (99,1%), trong đó khu vực thành thị là 99,5%, khu vực nông thôn là 98,6%.
Chỉ một bộ phận nhỏ các hộ dân cư hiện đang sống trong nhà ở thiếu kiên cố và đơn sơ (0,9%), trong đó tỷ lệ hộ có nhà ở thiếu kiên cố và đơn sơ tại thành thị là 0,5%, thấp hơn 0,9 điểm % so với khu vực nông thôn (1,4%) và diện tích nhà ở bình quân đầu người năm 2019 của thành phố Hà Nội là 26,1 m2/người.
Bên cạnh đó một số liệu khác cho thấy, tỷ lệ cây xanh trên mỗi người dân tại các đô thị lớn ở Việt Nam chỉ ở mức từ 2 – 3 m2/người, bằng 1/5 đến 1/10 so với chỉ số tại các thành phố hiện đại trên thế giới (khoảng 20 – 25 m2/người), trong khi chỉ tiêu xanh tối thiểu của Liên Hiệp Quốc đưa ra ở mức 10 m2/người (Tổng cục Lâm nghiệp, 2021).
Các số liệu trên cho thấy diện tích cây xanh và không gian xanh ở thành phố Hà Nội còn thấp so với tiêu chuẩn tối thiểu. Các giải pháp về quy hoạch để tăng không gian xanh trong đô thị cũng được đề xuất nhưng để hiện thực hóa thì cần phải có sự phối hợp của nhiều cơ quan quản lý cùng các chuyên gia trên nhiều lĩnh vực, quá trình này không thể thực hiện trong thời gian ngắn.

Hình 1. Ảnh chụp Hà Nội từ trên cao (Nguồn: reatimes.vn)
Quá trình khảo sát hiện trạng các khu ở thấp tầng tại Hà Nội cho thấy có rất nhiều không gian trên mái chưa được con người khai thác và đưa vào sử dụng. Những không gian này được đánh giá là rất tiềm năng với chức năng đa dạng như vườn trên mái, góp phần gia tăng diện tích mảng xanh cho đô thị với hạ tầng bền vững do phần diện tích mái tương đương 25% đất đô thị.
Với mật độ dân cư tại thành phố Hà Nội ngày càng dày đặc, diện tích ở bình quân cho mỗi cá nhân hoặc hộ gia đình ở mức thấp thì giải pháp cho không gian mái chính là không gian bổ sung lý tưởng về mặt diện tích cũng như cơ hội nâng cao chất lượng sống.
Sự ra đời của vật liệu chống thấm là cơ sở để hiện thực hóa các giải pháp thi công vườn trên mái tuy nhiên có thể thấy một tỷ lệ lớn diện tích không gian mái ở đô thị tại Việt Nam nói chung và ở thành phố Hà Nội nói riêng vẫn chưa được “xanh hóa” hoặc chưa được sử dụng một cách triệt để. Thực trạng sử dụng không gian mái tại thành phố Hà Nội có thể phân thành các nhóm sau:
- Nhóm 1: Các khu ở tập trung đông dân cư như khu tập thể cũ, chung cư thấp tầng, nhà ở tái định cư, nhà ở xã hội được. Những loại hình khu ở này thường có đặc điểm là sử dụng mái bằng để lắp đặt tràn lan bồn chứa nước inox, bố trí hệ thống kỹ thuật tòa nhà hoặc để trống. Các hộ dân thường không được tự do tiếp cận với các không gian mái do cấu trúc xây dựng của tòa nhà không đảm bảo tính an toàn (không xây lan can) hoặc hạn chế người dân tiếp cận với hệ thống kỹ thuật chung của cả tòa nhà (quy định từ phía ban quản lý hoặc hội đồng cư dân).

Hình 2. Ảnh chụp tầng mái của một số khu tập thể tại Hà Nội. (Nguồn: reatimes.vn)
- Nhóm 2: Các ngôi nhà được sở hữu và quản lý bởi cá nhân hoặc hộ gia đình bao gồm nhà biệt thự, nhà ống, nhà ở thấp tầng diện tích nhỏ tại các vùng ven đô thị. Đối với loại hình phổ biến chiếm tỷ lệ lớn trong cấu trúc nhà ở đô thị là nhà ống ở mặt phố hoặc mặt ngõ, khảo sát hiện trạng cho thấy đa phần người dân có xu hướng sử dụng vật liệu bao che (mái tôn, pin mặt trời…) để chống nóng cho không gian sân phía dưới, phần còn lại để trống không sử dụng hoặc số ít trồng cây, trồng rau tùy theo nhu cầu. Nhà biệt thự có cấu trúc mái dốc (mái ngói), biệt thự hiện đại dùng mái bằng thường có sự quan tâm hơn trong việc thiết kế sân vườn trên mái nhưng không nhiều, đa phần để trống hoặc sử dụng với mục đích khác của gia đình như phơi quần áo, lưu trữ đồ đạc…


Hình 3. Ảnh chụp tầng mái của khu nhà ống và khu biệt thự liền kề tại Hà Nội (Nguồn: vietnamnet.vn).
Tham khảo thêm giải pháp không gian mái: 8 kiểu cấu tạo mái nhà xanh
Nguồn: THS.KTS Phan Duy Tú, THS.KTS Trịnh Anh Tuấn, Bộ môn Kiến trúc Cảnh quan – Khoa Kiến trúc và Quy hoạch – Trường ĐHXD Hà Nội, Nghiên cứu tổ chức vườn mái đa chức năng trong các khu ở thấp tầng mật độ cao tại Thành phố Hà Nội, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Chào mừng kỷ niệm 75 năm Hội Kiến trúc sư Việt Nam – “Kiến trúc và Quy hoạch bền vững: Tiếp nối giá trị truyền thống, hướng tới tương lai”. Hà Nội tháng 04-2023.
